
Cha Pedro Walpole (*), Dòng tên, trong bản tin ngày 20 tháng 7 năm 2026 của hãng tin LiCas, cho hay: Khi các nhà lãnh đạo thế giới tập hợp từ ngày 9 tới ngày 20/11/26 tại Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ, cho COP31,họ sẽ thảo luận về các mục tiêu giảm phát thải, tài chính khí hậu, năng lượng tái tạo và sự tàn phá thế giới tự nhiên.
Tuy nhiên, một trong những cuộc tấn công nghiêm trọng nhất vào tạo thế có thể vẫn nằm ngoài lề các cuộc đàm phán đó: chiến tranh.
Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã đưa ra một khuôn khổ đạo đức để giải quyết sự im lặng đó. Ngài đã mô tả cuộc khủng hoảng môi trường là “khía cạnh sinh thái của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội đương thời” và cảnh báo rằng hòa bình đang bị đe dọa bởi “sự thiếu tôn trọng đối với tạo thế, sự tàn phá tài nguyên thiên nhiên và sự suy giảm dần chất lượng cuộc sống do biến đổi khí hậu”.
Ngài cũng kêu gọi tăng cường hợp tác quốc tế và một quá trình chuyển tiếp công bằng, trong đó lợi ích chung được ưu tiên hơn lợi nhuận.
Tại COP31, Đức Giáo Hoàng Leo có thể tập hợp những mối quan tâm này bằng cách kêu gọi các chính phủ nhận ra rằng quân sự hóa, xung đột vũ trang và chuẩn bị chiến tranh làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng khí hậu.
Chiến tranh hiện đại tiêu thụ một lượng lớn nhiên liệu. Nó phá hủy rừng, đất nông nghiệp, vùng đất ngập nước và hệ sinh thái ven biển. Nó làm ô nhiễm nước và đất, làm di dời cộng đồng và để lại những thiệt hại có thể kéo dài rất lâu sau khi chiến tranh kết thúc.
Do đó, xây dựng hòa bình phải được hiểu là một phần của hành động vì khí hậu.
Khí thải ẩn giấu của chiến tranh
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học vì trách nhiệm toàn cầu và Đài quan sát xung đột và môi trường, ước tính quân đội toàn cầu chiếm khoảng 5.5% lượng khí thải nhà kính, tương đương khoảng 2.7 tỷ tấn carbon dioxide mỗi năm.
Nếu lực lượng vũ trang thế giới được coi như một quốc gia, họ sẽ nằm trong số những quốc gia phát thải lớn nhất.
Tuy nhiên, lượng khí thải quân sự vẫn chưa được báo cáo đầy đủ hoặc nhất quán theo các cơ chế khí hậu quốc tế. Các chính phủ có thể giữ lại thông tin vì lý do an ninh quốc gia, khiến một nguồn phát thải lớn nằm ngoài sự giám sát của công chúng.
Điều này cho phép các quốc gia tự cho mình là đang tiến bộ trong việc giảm phát thải carbon trong khi vẫn mở rộng lực lượng vũ trang, tăng chi tiêu quốc phòng và chuẩn bị cho các cuộc xung đột mà chi phí môi trường hiếm khi được phản ánh trong các cam kết về khí hậu.
Một đánh giá toàn cầu không tính đến đầy đủ lượng khí thải quân sự sẽ cho thấy một bức tranh không đầy đủ về cuộc khủng hoảng.
COP31 nên thúc đẩy các chính phủ đưa lượng khí thải quân sự và liên quan đến xung đột vào Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của họ. Quá trình khí hậu của Liên Hợp Quốc cũng nên thiết lập các tiêu chuẩn chung để báo cáo lượng khí thải từ lực lượng vũ trang, công nghiệp quân sự và xung đột. Nếu thiếu sự minh bạch như vậy, thế giới không thể đo lường chính xác chi phí khí hậu của việc quân sự hóa.
Chi phí đó vượt xa việc sử dụng nhiên liệu. Các vụ đánh bom và nổ thải ra các hạt độc hại vào không khí. Các hoạt động quân sự phá hủy hệ sinh thái và môi trường sống của động vật hoang dã. Nhiên liệu, hóa chất và kim loại nặng bị tràn ra làm ô nhiễm sông ngòi và nước ngầm. Mìn và vật liệu nổ chưa được kích hoạt khiến các trang trại và rừng trở nên nguy hiểm rất lâu sau khi xung đột kết thúc.
Tác động nặng nề nhất đè nặng lên thường dân. Nông dân mất quyền tiếp cận đất đai của họ. Người bản địa bị buộc phải rời bỏ lãnh thổ tổ tiên. Các gia đình mất nhà cửa và sinh kế. Hệ thống lương thực bị phá vỡ, nước trở nên không an toàn và các dịch vụ công cộng bị hư hại khiến cộng đồng khó có khả năng chống chịu thảm họa khí hậu hơn.
Tái thiết mang lại một gánh nặng môi trường khác. Đường sá, cầu cống, hệ thống điện và các thành phố thường được xây dựng lại bằng xi măng và thép có hàm lượng carbon cao. Trong nhiều trường hợp, quá trình xây dựng lại khôi phục lại sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, điều đã góp phần gây ra khủng hoảng khí hậu ngay từ đầu.
Quá trình phục hồi sau chiến tranh không nên tái tạo lại những điều kiện đã khiến các cộng đồng dễ bị tổn thương. Nó cần khôi phục hệ sinh thái, mở rộng năng lượng tái tạo và đặt nhu cầu của những người bị ảnh hưởng làm trọng tâm của quá trình tái thiết.
Chiến tranh và sự hủy diệt tạo thế
Lịch sử vũ khí hạt nhân cho thấy sự quân sự hóa có thể gây tổn hại sâu sắc đến thế giới tự nhiên như thế nào.
Hơn 2,000 vụ thử hạt nhân đã được tiến hành trên toàn thế giới từ năm 1945 đến năm 1996, bao gồm hơn 500 vụ thử trong khí quyển. Chúng đã giải phóng vật liệu phóng xạ và để lại những tác hại lâu dài ở những nơi chúng được thực hiện.
Đảo san hô Bikini và Mururoa vẫn là biểu tượng cho những tổn thất về con người và sinh thái của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân.
Nguy hiểm vẫn tiếp diễn. Việc thử nghiệm tên lửa và đầu đạn hạt nhân giải phóng khí carbon dioxide, các hạt bụi và hóa chất vào khí quyển. Một số nhiên liệu hạt nhân tạo ra các hợp chất có thể góp phần làm suy giảm tầng ozone.
Các mô phỏng khoa học cũng cảnh báo rằng một cuộc chiến tranh hạt nhân có thể đưa một lượng lớn muội than vào tầng bình lưu (stratosphere), chặn ánh sáng mặt trời và làm gián đoạn nông nghiệp toàn cầu. Kết quả có thể là tình trạng mất an ninh lương thực trên diện rộng, vượt xa phạm vi các quốc gia trực tiếp liên quan.
Chiến tranh không chỉ là một thất bại về chính trị hay đạo đức. Nó đe dọa khí hậu, hệ thống lương thực và các điều kiện cần thiết cho sự sống còn của con người.
Sự mâu thuẫn tương tự cũng thể hiện rõ trong chi tiêu của chính phủ.
Các quốc gia thường biện minh cho việc mở rộng quân sự nhân danh an ninh, ngay cả khi cộng đồng phải đối diện với mực nước biển dâng cao, nắng nóng cực độ, hạn hán, lũ lụt và tình trạng thiếu lương thực ngày càng trầm trọng.
Chi tiêu quân sự đòi hỏi nhiên liệu, sản xuất, vận tải, cơ sở hạ tầng và sản xuất vũ khí, máy bay, tàu chiến và xe cộ. Nó cũng lấy đi các nguồn lực công cộng khỏi năng lượng tái tạo, thích ứng với biến đổi khí hậu, y tế, giáo dục và chuẩn bị ứng phó thảm họa.
Đây không phải là những mối quan tâm thứ yếu. Chúng là nền tảng của an ninh con người. Một quốc gia có thể sở hữu vũ khí tiên tiến trong khi để người dân của mình phải đối diện với bão tố, mất mùa, khan hiếm nước và di cư do biến đổi khí hậu.
COP31 nên đối diện với mâu thuẫn đó. Các chính phủ không thể hứa hẹn một khí hậu an toàn hơn trong khi đầu tư mạnh vào các hệ thống có khả năng phá hủy cộng đồng và hệ sinh thái.
Các ngành kỹ nghệ vũ khí và hàng không vũ trụ cũng cần phải công khai lượng khí thải trong toàn bộ hoạt động và chuỗi cung ứng của họ, đồng thời áp dụng các mục tiêu giảm thiểu phù hợp với Hiệp định Paris.
Cơ hội của Đức Giáo Hoàng Leo tại COP31
Thánh Tông đồ Phaolô viết rằng “toàn thể tạo thế đang rên rỉ trong cơn đau đẻ”.
Tạo vật rên rỉ dưới sự khai thác, ô nhiễm và một hệ thống kinh tế coi thiên nhiên là nguồn tài nguyên vô hạn. Nó cũng rên rỉ dưới bom đạn, tên lửa và cỗ máy chiến tranh.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô dạy rằng tiếng kêu than của Trái đất không thể tách rời khỏi tiếng kêu than của người nghèo. Đức Giáo Hoàng Leo đã tiếp tục phát huy sự hiểu biết này bằng cách nhấn mạnh rằng biến đổi khí hậu phải được giải quyết cùng với phẩm giá con người, công bằng xã hội và lợi ích chung.
Ngài đã cảnh báo rằng các giải pháp kỹ thuật sẽ thất bại trừ khi các xã hội cũng phải đối diện với những vấn đề xã hội và đạo đức sâu sắc hơn đằng sau cuộc khủng hoảng môi trường. Ngài đã kêu gọi sự chú ý đặc biệt đến những người nghèo nhất và những người dễ bị tổn thương nhất trước sự suy thoái môi trường.
Những mối quan tâm đó áp dụng trực tiếp cho chiến tranh. Những người quyết định gây chiến hiếm khi là những người phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất. Dân thường bị giết hoặc phải di dời. Các cộng đồng nghèo mất đi nguồn cung cấp thực phẩm, nước và chỗ ở. Người bản địa và các cộng đồng nông thôn chứng kiến đất đai của họ bị chiếm đóng, ô nhiễm hoặc phá hủy.
Lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng về quân sự hóa và biến đổi khí hậu sẽ không đại diện cho một hướng đi mới. Nó sẽ tập hợp các nguyên tắc mà Đức Giáo Hoàng Leo đã nhấn mạnh: chăm sóc tạo thế, hòa bình, công lý, đoàn kết và trách nhiệm đối với những người dễ bị tổn thương nhất.
Ngài có thể sử dụng COP31 để hỏi các chính phủ liệu cam kết về khí hậu của họ có trung thực hay không trong khi lượng khí thải quân sự vẫn bị che giấu và ngân sách quốc phòng tiếp tục tăng lên.
Ngài có thể kêu gọi báo cáo đầy đủ về lượng khí thải liên quan đến quân sự và xung đột, tái thiết có trách nhiệm với môi trường và đầu tư nhiều hơn vào thích ứng khí hậu và phát triển con người.
Ngài cũng có thể nhắc nhở cộng đồng quốc tế rằng ngăn ngừa xung đột bảo vệ con người, hệ sinh thái và các nguồn lực cần thiết cho một quá trình chuyển tiếp công bằng.
Ngoại giao khí hậu từ lâu đã coi chiến tranh là một vấn đề riêng biệt. Điều đó không đúng. Thế giới không thể tuyên bố bảo vệ tạo thế trong khi chuẩn bị phá hủy nó. Hòa bình chính là hành động vì khí hậu.
__________________________
(*) Cha Pedro Walpole, S.J. làm việc trong lĩnh vực môi trường bền vững và quản lý đất đai cộng đồng ở Đông Nam Á, chủ yếu với các cộng đồng địa phương, trường đại học, tổ chức quốc tế và chính phủ. Ngài áp dụng phương pháp lấy con người làm trung tâm trong việc xây dựng năng lực và tìm cách thúc đẩy các mối quan hệ đối tác bền vững hơn thông qua nghiên cứu, tham vấn và xây dựng chính sách để hỗ trợ người dân và chính quyền địa phương. Ngài là Giám đốc Nghiên cứu của Trung tâm Khoa học Môi trường vì Thay đổi Xã hội và là Điều phối viên của Mạng lưới Sông phía trên Châu Á của Giáo hội Châu Đại Dương -.
Cha Pedro cũng điều hành Trung tâm Giáo dục Văn hóa Apu Palamguwan, một chương trình giáo dục cơ bản vùng cao và đào tạo kỹ thuật cho trẻ em bản địa ở miền bắc Mindanao, với chương trình giảng dạy dựa trên văn hóa riêng và thúc đẩy giáo dục đa ngôn ngữ cũng như việc sử dụng tiếng mẹ đẻ. Ngài vẫn tiếp tục sống với người Pulangiyēn, một cộng đồng bản địa vùng cao ở Mindanao.