Nguồn ảnh: Ảnh do Đan viện Barroux cung cấp


Một nghiên cứu dài hạn về các đan viện ở Đức và Áo cho thấy phần lớn sự khác biệt về tuổi thọ giữa nam và nữ là do cách sống của nam giới, chứ không phải do sinh học.

Bohumil Petrík, của hãng tin EWTNNews ngày 25 tháng 7 năm 2026, cho hay: Khoảng cách tuổi thọ giữa các đan sĩ và nữ tu gần như biến mất bên trong đan viện, và cuộc sống cộng đồng với quy tắc sống, cầu nguyện theo lịch trình và mục đích sống góp phần vào quá trình lão hóa thành công.

Đây là một số phát hiện của "Nghiên cứu Đan viện Đức-Áo" do Marc Luy thuộc Viện Nhân khẩu học Vienna tại Viện Hàn lâm Khoa học Áo thực hiện. Dự án nghiên cứu về sức khỏe, lão hóa và tuổi thọ đã điều tra các yếu tố về sức khỏe và tuổi thọ cho thấy cái gọi là "lão hóa thành công" - tức là một cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh.

Nghiên cứu này đã thu hút sự chú ý trở lại ở châu Âu trong tháng này sau khi đan sĩ dòng Benedictine David Steindl-Rast kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 vào ngày 12 tháng 7, như CNA Deutsch, dịch vụ tiếng Đức của EWTN News, đã đưa tin.

Nghiên cứu bắt đầu vào năm 1997 với trọng tâm là các thành viên của các dòng tu nam và nữ, vì họ có cuộc sống rất giống nhau và dễ nghiên cứu. Họ giống nhau về chế độ sinh hoạt hàng ngày, dinh dưỡng, điều kiện sống, đức tin và nhiều khía cạnh khác ảnh hưởng đến sức khỏe và tuổi thọ, nghiên cứu giải thích.

Khoảng 16,600 thành viên của các dòng tu đã tham gia (hơn 9,000 nữ tu, số còn lại là đan sĩ) ở Đức và Áo - với một số ít thành viên sống ở Thụy Sĩ và Ý. Cuộc điều tra bao gồm các bảng câu hỏi tự điền ẩn danh được gửi đến hơn 1,100 người thuộc các dòng tu nhưng đã truy ngược lại đến năm 1890 để tham khảo các kho lưu trữ của nhiều cộng đồng tu trì, điều này rất hữu ích trong việc cung cấp dữ liệu. Một số kết quả khá bất ngờ đã xuất hiện.

Theo nghiên cứu, sự chênh lệch khoảng một năm về tuổi thọ giữa hai giới là do các yếu tố sinh học. Sự khác biệt lớn hơn về tuổi thọ giữa hai giới trong dân số là do tỷ lệ tử vong ở nam giới không do yếu tố sinh học, chứ không phải do tỷ lệ tử vong thấp ở nữ giới như nhiều người vẫn tin.

Nghiên cứu cũng đặt ra câu hỏi về câu nói nổi tiếng rằng “phụ nữ ốm yếu hơn, nhưng đàn ông chết nhanh hơn”.

Luy đã đưa ra hai giả thuyết ngay từ đầu dự án. Giả thuyết đầu tiên là “sự đảo ngược tổng thể về sự khác biệt giữa tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong giữa hai giới xảy ra vì các điều kiện đóng vai trò quan trọng trong tỷ lệ mắc bệnh lại không quan trọng lắm trong tỷ lệ tử vong, và ngược lại”. Thứ hai là “rất có khả năng tuổi thọ có liên quan trực tiếp đến số năm sống trong tình trạng sức khỏe kém”, điều này có nghĩa là “phụ nữ có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn không phải vì họ là nữ giới mà vì họ là giới tính có tuổi thọ cao hơn”.

Nam giới trong các dòng tu sống trung bình lâu hơn khoảng năm năm so với nam giới bên ngoài đan viện, và đời sống đan viện dường như làm giảm một số rủi ro làm giảm tuổi thọ. Những cộng đồng như vậy cung cấp một lịch trình sinh hoạt hàng ngày có trật tự và một lịch trình làm việc, ăn uống và cầu nguyện có cấu trúc, các mối quan hệ lâu dài, mục đích chung, v.v. Do đó, người ta có điều kiện lý tưởng cho sức khỏe cả về tinh thần và thể chất.

Hơn nữa, trong một cộng đồng đan viện, mọi người chăm sóc lẫn nhau, và sự suy giảm về thể chất hoặc tinh thần thường được nhận biết sớm hơn. Tương tự, căng thẳng mãn tính được giảm bớt và cầu nguyện giúp ổn định cảm xúc.

Người đứng đầu dự án, nhà khoa học xã hội người Đức Luy, người đã làm việc tại Áo từ năm 2008, nói với EWTN News rằng sẽ “đáng lưu ý” nếu đưa các dòng tu từ các quốc gia khác vào. Tuy nhiên, ông nói, “đây là vấn đề về nguồn lực”. “Tuy nhiên, tôi không mong đợi kết quả khác với những gì chúng tôi đã đạt được từ một số dòng tu ở Đức và Áo,” ông nói thêm.

Tuy nhiên, “trở thành một đa sĩ hay nữ tu không nhất thiết có nghĩa là sống một cuộc sống dễ dàng và bình yên,” nữ tu người Slovakia Cecília Kasanová nói với EWTN News.

Nữ tu dòng Đa Minh này đã sống sáu năm tại Đan viện Thánh Đa Minh và Thánh Six-tô Đức Mẹ Mân Côi ở Rome, nơi lưu giữ bức tượng Đức Mẹ cổ xưa được gọi là "Advocata," do Thánh Đa Minh mang đi khắp Rome.

Mặc dù thừa nhận rằng một lối sống cân bằng có thể ảnh hưởng đến tuổi thọ, “những đan sĩ hay nữ tu nổi tiếng sống thọ đã trải qua đau khổ, chiến tranh, bị bức hại vì niềm tin tôn giáo của họ, hoặc bị giam cầm.” Sơ Cecília nói rằng bà nghĩ thật “tuyệt vời” khi những đan sĩ và nữ tu đó “đã có sức mạnh để kiên trì và không bỏ cuộc.”

Bà thừa nhận lợi ích của một ngày được chia đều thành những khoảnh khắc tĩnh lặng: cầu nguyện cá nhân, học tập, làm việc, Thánh lễ hàng ngày, xưng tội thường xuyên và các bữa ăn chung. Cũng có những lúc họ trò chuyện với nhau, chẳng hạn như trong các cuộc họp cộng đồng và các buổi lễ kỷ niệm, cũng như hời gian để thư giãn và đón tiếp khách ở lối vào.

Hơn nữa, đời sống thánh hiến trong một cộng đồng nữ tu có thể cải thiện cuộc sống của khách đến thăm, Sơ Cecília nhận xét. Đó là “một món quà tuyệt vời đối với cá nhân tôi, đối với Giáo hội và đối với thế giới”, vì “chúng tôi sống hoàn toàn vì Chúa” và cầu nguyện cho những người đến. Những người tín hữu đó “thường cảm thấy tốt hơn vì họ được lắng nghe, được chấp nhận, biết rằng họ không đơn độc trong những gì họ đang trải qua, bởi vì chúng tôi đồng hành cùng họ bằng lời cầu nguyện”, sơ nhấn mạnh.

Do đó, đời sống đan viện cho thấy rằng chúng ta nên “đặt Chúa lên hàng đầu”, vì Người “ban ý nghĩa cho mọi việc chúng ta làm và cho con người chúng ta. Người là Thiên Chúa của chúng ta và đồng thời là một người bạn trung thành”, nữ tu người Slovakia nói.

Trong một bức thư đề ngày 16 tháng 7 và được Tòa Thánh công bố ngày 22 tháng 7, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã viết nhân kỷ niệm 70 năm Hội nghị các Bề trên Cao cấp của các Dòng Nam giới tại Hoa Kỳ. Ngài khuyến khích họ xem đời sống cộng đồng “như một nơi thánh hóa và là nguồn cảm hứng, chứng nhân và sức mạnh trong sứ mệnh tông đồ của các con”.

Theo Đức Giáo Hoàng, người cũng là thành viên của dòng Augustinô, “chính qua việc chia sẻ mọi thứ chung, bao gồm của cải vật chất, kinh nghiệm tâm linh, lý tưởng tông đồ và phục vụ bác ái, mà sự hiện diện ẩn giấu của Chúa Phục Sinh được biểu lộ giữa các con”.