Đức Hồng Y Vincent Nichols, trong bản tin ngày 5 tháng 4 năm 2026 của tạp chí Catholic Herald, có bài viết về hiện tượng số người gia nhập Giáo Hội Công Giáo ngày một đông hơn. Ngài viết:

Trong Đêm Canh thức Phục Sinh, tại nhiều nhà thờ, một số người tiến lên phía trước để được rửa tội hoặc được tiếp nhận vào sự hiệp thông trọn vẹn của Giáo Hội Công Giáo. Tại Vương quốc Anh, con số này đang tăng lên. Thật vậy, tôi được biết rằng tại Giáo phận Westminster, con số này đã tăng gấp đôi trong hai năm qua.

Nhưng điều này không chỉ đơn thuần là về con số. Mỗi người trong số những người bước lên phía trước, thường là một cách rụt rè, đều đã thực hiện một cuộc hành trình sâu sắc về trái tim, tâm trí và linh hồn. Bước đi mà họ thực hiện thể hiện sự thay đổi trong quan điểm sống, một sự thay đổi triệt để đối với những người mới đến với đức tin và chịu phép rửa tội, ít kịch tính hơn đối với những người đã được rửa tội và đang đón nhận, cũng như được cộng đồng Giáo Hội Công Giáo đón nhận.

Làm thế nào chúng ta có thể suy gẫm về sự kỳ diệu của những hành trình bản thân này? Liệu có thể xác định được một số đặc điểm chung không?

Mỗi hành trình là một sự đáp trả đầy tính bản thân đối với lời kêu gọi từ Thiên Chúa, và tác động của ân sủng Thiên Chúa trong cuộc sống chúng ta tiết lộ một số chân lý sâu sắc và bền vững nhất về con người chúng ta, về nguồn gốc và vận mệnh của chúng ta.

Trong những năm qua, tôi đã gặp gỡ hàng trăm người trong Nghi thức Tuyển chọn khi họ quy tụ tại các nhà thờ chính tòa vào đầu hành trình chính thức hướng đến Lễ Phục Sinh. Những cuộc trò chuyện này và những cuộc trò chuyện khác thường khiến tôi suy gẫm về những khuôn mẫu nhất quán đã trở nên rõ ràng.

Tôi nhận thấy rằng có bốn khía cạnh trong những cuộc trò chuyện này xuất hiện lặp đi lặp lại. Để rõ ràng hơn, tôi trình bày chúng ở đây theo thứ tự. Tuy nhiên, chúng đều đóng vai trò của mình trong bất cứ thứ tự nào, hoặc được kết hợp với nhau, một số mạnh hơn những khía cạnh khác. Tôi tin rằng chúng ta nên chú ý đến chúng như những yếu tố then chốt trong cách chúng ta thu hút người khác đến với hồng phúc tuyệt vời của đức tin.

Trước hết, tôi nhận thấy rằng rất ít, nếu không muốn nói là không có ai, thực hiện cuộc hành trình này một mình. Họ được đồng hành: bởi bạn bè, người thân yêu hoặc ít nhất là ai đó trong nhóm giáo xứ của họ. Sự ấm áp giữa họ rất rõ ràng và đáng trân trọng. Cuộc hành trình đến với đức tin, do đó, có liên quan rất nhiều đến sự thuộc về. Tôi thực sự thuộc về ai? Tôi có thể tìm đến ai? Tôi có thể dựa vào ai? Đây là những câu hỏi quan trọng trong thời đại đề cao tính tự chủ của cá nhân, dù là trong vấn đề chân lý hay vấn đề sống chết, như trong các cuộc tranh luận về phá thai hay tự tử có hỗ trợ.

Tuy nhiên, chúng ta không phải là những cá nhân cô lập. Khẳng định một cách cực đoan điều này là duy trì một lời nói dối. Chúng ta thuộc về nhau, trong những vòng tròn mang lại sự sống. Chúng ta không thể đứng một mình. Đó không phải là cách chúng ta được tạo ra.

Vì vậy, việc tìm kiếm sự thuộc về, được chấp nhận, được bao gồm, thường đóng một vai trò mạnh mẽ trong cuộc hành trình đến với đức tin. Điều này là bởi vì sự tìm kiếm ấy đưa chúng ta đến nguồn gốc của mọi sự thuộc về, đến khởi nguồn của cuộc sống chúng ta như là hồng phúc của Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng chúng ta như những người con gái và con trai của Người, như chị em và anh em của nhau, trong một hồng phúc sự sống chung. Chúng ta thực sự thuộc về nhau. Dần dần, chúng ta nhận ra chân lý này của cuộc sống và cách mà, trong mầu nhiệm của Thiên Chúa, được tỏ hiện nơi Chúa Kitô, chúng ta được gắn kết với nhau.

Một chiều kích khác của hành trình đức tin này xuất phát một cách hợp luận lý từ chiều kích đầu tiên, nhưng cũng có thể đứng độc lập.

Chúng ta là những hữu thể tìm kiếm ý nghĩa. Chúng ta bị xáo trộn bởi sự hỗn loạn, bởi sự thiếu trật tự, bởi cuộc sống vô định hình. Chúng ta muốn biết điều gì là đáng tin cậy, vững chắc, điều gì đó mà chúng ta có thể dựa vào để định hướng cuộc sống. Xã hội đưa ra nhiều dự án: sự nghiệp, tiến bộ về vật chất, những thành tựu được ca ngợi, và những cách khác để chúng ta có thể đạt được sự kính trọng và địa vị.

Tuy nhiên, những điều này có thể tan biến như sương sớm. Chẳng lẽ không còn gì hơn thế nữa sao?

Đức tin của chúng ta mang đến một chân trời mà nhờ đó chúng ta có thể định hướng và nỗ lực của mình. Đó là chân trời của thiên đường và của vương quốc đang hiện hữu trên trái đất này. Người Kitô hữu biết mục đích thực sự của cuộc sống và do đó có những tiêu chuẩn để đánh giá hành động và ý định của mình. Giáo hội, trong giáo huấn, trong truyền thống phân định, trong các vị thánh, trong nghệ thuật và thi ca, mở ra cho nhiều người một cái nhìn thoáng qua về ý nghĩa đích thực, dẫn dắt nhiều người từ những bất ổn của ngày hôm nay đến một lối sống có chủ đích và mục tiêu hơn. Và trong Chúa Giêsu Kitô, chúng ta có con đường của mình. Người là con đường dẫn đến sự viên mãn của chúng ta.

Một khía cạnh khác đáng để xem xét là vẻ đẹp của Công Giáo. Mỗi ngày, hàng trăm người bước vào Nhà thờ Westminster. Đối với nhiều người, đây là lần đầu tiên họ bước vào một nhà thờ, có thể là sau một thời gian dài hoặc có thể là lần đầu tiên trong đời. Điều gì gây ấn tượng với họ?

Họ thường nói với tôi: đó là không gian, sự bình yên, vẻ đẹp. “Tôi bị mê hoặc!”

Chúng ta được tạo ra để trân trọng vẻ đẹp, để bị thu hút bởi nó, để được chạm đến một cách sâu sắc bởi vẻ đẹp. Đó có thể là vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp mà chúng ta nhìn thấy ở những người thân yêu, vẻ đẹp của nghệ thuật, âm nhạc và thi ca. Tuy nhiên, sự trân trọng này không phải là một bản năng chiếm hữu. Một người khi nhìn thấy một tác phẩm nghệ thuật lập tức muốn sở hữu nó cho riêng mình thì đang đi theo con đường chiếm hữu hơn là con đường thưởng thức. Ngược lại, sự thưởng thức đích thực mới là điều quan trọng. Phản ứng tự nhiên của con người trước cái đẹp là sự kính sợ, kinh ngạc, một sự mở rộng tâm hồn và trí óc. Tôi như thoát ly khỏi bản thân mình trước vẻ đẹp đích thực.

Ngày nay, vẻ đẹp ấy là con đường mạnh mẽ dẫn đến với Chúa. Làm thế nào để chúng ta đảm bảo rằng các nhà thờ của chúng ta thực sự là những nơi đẹp đẽ? Làm thế nào để những khoảnh khắc mà vẻ đẹp có thể khiến người ta ngỡ ngàng không bị xem nhẹ mà được trân trọng?

Đối với tôi, dường như sự trân trọng cái đẹp, dưới mọi hình thức, thường đi kèm với khát vọng tĩnh lặng. Chính trong sự hiện diện tĩnh lặng, hỗ tương đó mà vẻ đẹp phát huy phép màu của nó. Tuy nhiên, sự tĩnh lặng lại rất khó đạt được ngày nay. Để làm phong phú thêm con đường của cái đẹp, chúng ta phải đảm bảo có những khoảnh khắc tĩnh lặng trong cuộc sống và trong các nghi lễ của mình. Gần đây, tôi đã đọc một câu thơ tuyệt vời của Gerard Manley Hopkins. Ông viết: “Sự tĩnh lặng được chọn, hãy hát cho tôi nghe!” Câu thơ này trích từ bài thơ “Thói quen hoàn hảo” của ông và rất đáng đọc. Thường thì chính trong sự tĩnh lặng, chúng ta nghe thấy tiếng gọi của Chúa, âm nhạc lôi cuốn chúng ta vào sự hiện diện và vòng tay yêu thương của Người.

Để kết thúc hành trình đến với đức tin, tôi muốn kể về một khoảnh khắc đã ảnh hưởng sâu sắc đến tôi. Tại một giáo xứ, tôi gặp một người phụ nữ sắp được rửa tội. Bà đã đến dự Thánh lễ Chúa nhật gần hai mươi năm, chăm sóc con cái theo ý muốn của chồng, người mà bản thân cũng không mấy quan tâm. Tôi hỏi tại sao bà lại làm điều này. Sau một số gợi ý không thành công từ phía tôi, bà tuyên bố: “Con không hiểu tại sao, nhưng những gì xảy ra trên bàn thờ đó ảnh hưởng đến con rất sâu sắc.”

Thường thì, mọi người rất ngưỡng mộ những hành động quảng đại vô vị kỷ, những hành động hy sinh bản thân. Thường thì người ta bày tỏ sự ngạc nhiên về động cơ tạo nên những hành động đó: lòng trung thành, tình yêu, lòng can đảm. Điều mà người phụ nữ này nhận ra một cách bản năng là “trên bàn thờ” đang diễn ra sự hy sinh vĩ đại và trọn vẹn của Chúa Giêsu, Đấng đã hiến dâng tất cả vì sự tự do của chúng ta. Ở đây, sự đau khổ của mọi hành động hy sinh, mọi sự hy sinh trong đời sống gia đình, trong tình đồng chí, trong phục vụ người khác, trong tình yêu chung thủy, đều được tổng kết trong Chúa Kitô và dâng lên Chúa Cha, Đấng ban sự sống. Như vậy, sự hy sinh và đau khổ không còn vô nghĩa mà trở thành ngọn hải đăng của ân sủng trong thế giới chúng ta. Và điều đó dẫn chúng ta đến món quà cao quý nhất được giao phó cho Giáo hội, đó là thánh lễ.

Sự trân trọng sự kỳ diệu và kính sợ của Thánh lễ và việc tôn thờ Bí tích Thánh Thể thường hiện diện trong những hành trình đức tin mà chúng ta cử hành vào thời điểm này. Có lẽ sự quan tâm ngày càng tăng đối với hành trình này, đặc biệt là trong giới trẻ và nam giới, cho chúng ta cái nhìn sâu sắc hơn về những nhu cầu sâu xa hơn trong nền văn hóa của chúng ta ngày nay. Mỗi khía cạnh của hành trình đức tin này là một minh chứng đơn giản rằng đức tin của chúng ta là nguồn lực vững chắc và nền tảng duy nhất cho sự gắn kết xã hội lâu dài và cho một nền văn hóa mang lại sự sống.

Vậy thì, đây chính là thách thức của sứ mệnh trước mắt chúng ta: nó mang tính bản thân sâu sắc, mang tính nhân bản sâu sắc. Đó là một thách thức mà tất cả mọi người đều có thể đóng góp thông qua các mối quan hệ của riêng họ và trong cuộc sống của chính họ. Cốt lõi của điều này là chính Chúa Giêsu. Sự tiếp xúc bản thân với Chúa Giêsu, thông qua lời cầu nguyện riêng và trò chuyện với Người, qua phụng vụ của Giáo hội, là chìa khóa để đổi mới đức tin và loan truyền đức tin.

Một ngày nọ, tôi hỏi một người phụ nữ, đã kết hôn với một người Công Giáo hơn hai mươi năm và giờ đang tìm kiếm sự hiệp thông trọn vẹn, tại sao bà lại chần chừ lâu đến vậy. Câu trả lời của bà: “Chẳng ai hỏi tôi cả!”

Điều này cũng rất đáng để suy gẫm.